Hỗ trợ khách hàng
-------------------------------------------------
TRỤ SỞ CHÍNH
 
Địa chỉ: 54 Đường số 56, P.Bình Trưng Đông , Quận 2, TP. Hồ Chí Minh
Tel: (08) 37 433 886
Fax: (08) 37 433 528
Hotline: 0909 004 963
Email: adac@adac.com.vn

Tư vấn khách hàng

Bạn muốn hỏi gì?
Theo Thông tư 200/2014/TT-BTC hướng dẫn Chế độ kế toán Doanh nghiệp và câu trả lời của Bộ liên quan tới việc DN vừa và nhỏ được áp dụng theo QĐ 48/2006/QĐ-BTC. Tôi muốn hỏi, DN vừa và nhỏ hoàn toàn được phép áp dụng hệ thống Tài khoản theo QĐ 48/2006 (sử dụng các Tài khoản ngắn hạn: 142, 144, 129, 139, 159, 311,..) có đúng không? Điều 128 Thông tư 200/2014 cũng có nêu “Những nội dung tại các Thông tư hướng dẫn Chuẩn mực kế toán Việt Nam không trái với Thông tư này vẫn còn hiệu lực”. Vậy những Tài khoản Thông tư 200/2014 đã thay đổi, thì toàn bộ hệ thống Tài khoản theo QĐ 48/2006 còn áp dụng được không? Xin chân thành cảm ơn.
Doanh nghiệp tôi là doanh nghiệp được hưởng ưu đãi miễn thuế TNDN trong 4 năm. Công ty tôi có áp dụng chế độ kế toán, chế độ hóa đơn chứng từ và kê khai thuế theo đúng quy định. Trong 3 năm đầu hoạt động (vẫn trong thời gian hưởng ưu đãi miễn thuế) do trình độ kế toán yếu nên sau khi nộp báo cáo tài chính và tờ khai quyết toán lên cho cơ quan thuế, kế toán có phát hiện sai sót trong hạch toán kế toán, xác định giá vốn nên chỉnh sửa lại hồ sơ sổ sách kế toán cho phù hợp tuy nhiên lại không kê khai nộp lại báo cáo tài chính và tờ khai sửa đổi cho cơ quan thuế. Nay công ty tôi bị cơ quan thuế vào kiểm tra quyết toán thuế cho 3 năm này, cơ quan thế đưa ra lý do là báo cáo tài chính đã nộp và sổ sách không giống nhau nên quyết định ấn định thuế TNDN với công ty tôi. Vậy quý Bộ cho tôi hỏi việc cơ quan thuế ấn định thuế với công ty tôi như vậy có đúng không? Sau khi ấn định thuế thì công ty tôi có được hưởng ưu đãi miễn thuế với số thuế bị ấn định cho 3 năm này do vẫn đang trong thời gian được hưởng ưu đãi miễn thuế hay không? Mong nhận được sự hồi đáp sớm nhất của quý cơ quan. Trân trọng cảm ơn.
Xin cho tôi hỏi nếu DN ngừng kinh doanh thì có nộp thuế môn bài hay không? Xin chân thành cảm ơn.
Công ty A là Công ty cổ phần tư nhân và có 1 chi nhánh (đã đăng ký Sở KHDT và được cấp Mã số Thuế đuôi) ở Vũng Tàu đang hoạt động bình thường và hạch toán độc lập. Nhưng do cty chính chưa tìm được địa điểm kinh doanh nên tạm ngưng hoạt động đến giữa tháng 10/2012 là tròn 2 năm. Theo Luật Doanh nghiêp thì không được tạm ngưng quá 2 năm. Vậy cho tôi hỏi Cty chính xin tạm ngưng nhưng chi nhánh vẫn đang hoạt động bình thường vậy có cách nào giải quyết hợp lý và đúng pháp Luật?
Rất mong nhận được sự hồi âm sớm của quý công ty và tôi chân thành cảm ơn.

Theo Thông tư 200/2014/TT-BTC hướng dẫn Chế độ kế toán Doanh nghiệp và câu trả lời của Bộ liên quan tới việc DN vừa và nhỏ được áp dụng theo QĐ 48/2006/QĐ-BTC. Tôi muốn hỏi, DN vừa và nhỏ hoàn toàn được phép áp dụng hệ thống Tài khoản theo QĐ 48/2006 (sử dụng các Tài khoản ngắn hạn: 142, 144, 129, 139, 159, 311,..) có đúng không? Điều 128 Thông tư 200/2014 cũng có nêu “Những nội dung tại các Thông tư hướng dẫn Chuẩn mực kế toán Việt Nam không trái với Thông tư này vẫn còn hiệu lực”. Vậy những Tài khoản Thông tư 200/2014 đã thay đổi, thì toàn bộ hệ thống Tài khoản theo QĐ 48/2006 còn áp dụng được không? Xin chân thành cảm ơn.

Ngày:26/12/2016

Trả lời:

Điều 128 Thông tư số 200/2014/TT-BTC ngày 22/12/2014 của Bộ Tài chính hướng dẫn chế độ kế toán doanh nghiệp quy định: “… Thông tư này thay thế cho Chế độ kế toán doanh nghiệp ban hành kèm theo Quyết định số 15/2006/QĐ-BTC ngày 20/3/2006 của Bộ trưởng Bộ Tài chính và Thông tư số 244/2009/TT-BTC ngày 31/12/2009 của Bộ Tài chính …”

Như vậy, quy định trên được hiểu là Thông tư số 200/2014/TT-BTC được thay thế cho Quyết định số 15/2006/QĐ-BTC và Thông tư số 244/2009/TT-BTC mà không thay thế cho Quyết định số 48/2006/QĐ-BTC. Do đó, Chế độ kế toán cho doanh nghiệp vừa và nhỏ ban hành theo Quyết định số 48/2006/QĐ-BTC và Thông tư số 138/2011/TT-BTC đến nay vẫn còn hiệu lực áp dụng. Do đó: – Nếu Công ty của độc giả thuộc đối tượng áp dụng Chế độ kế toán doanh nghiệp vừa và nhỏ và không muốn chuyển sang áp dụng chế độ kế toán doanh nghiệp ban hành kèm theo Thông tư số 200/2014/TT-BTC thì không phải áp dụng Thông tư số 200/2014/TT-BTC cho việc ghi sổ kế toán, lập và trình bày BCTC năm 2015. – Nếu Công ty của độc giả thuộc đối tượng áp dụng Chế độ kế toán doanh nghiệp vừa và nhỏ nhưng năm 2015 muốn chuyển sang áp dụng chế độ kế toán doanh nghiệp ban hành theo Thông tư số 200/2014/TT-BTC để phù hợp với đặc điểm kinh doanh và yêu cầu quản lý của doanh nghiệp theo quy định tại Điều 1 Thông tư số 200/2014/TT-BTC thì phải áp dụng quy định của Thông tư số 200/2014/TT-BTC cho việc ghi sổ kế toán, lập và trình bầy BCTC năm 2015. Nguồn: Bộ tài chính

Chị Loan - Cty Kỹ Nghệ Motex

Doanh nghiệp tôi là doanh nghiệp được hưởng ưu đãi miễn thuế TNDN trong 4 năm. Công ty tôi có áp dụng chế độ kế toán, chế độ hóa đơn chứng từ và kê khai thuế theo đúng quy định. Trong 3 năm đầu hoạt động (vẫn trong thời gian hưởng ưu đãi miễn thuế) do trình độ kế toán yếu nên sau khi nộp báo cáo tài chính và tờ khai quyết toán lên cho cơ quan thuế, kế toán có phát hiện sai sót trong hạch toán kế toán, xác định giá vốn nên chỉnh sửa lại hồ sơ sổ sách kế toán cho phù hợp tuy nhiên lại không kê khai nộp lại báo cáo tài chính và tờ khai sửa đổi cho cơ quan thuế. Nay công ty tôi bị cơ quan thuế vào kiểm tra quyết toán thuế cho 3 năm này, cơ quan thế đưa ra lý do là báo cáo tài chính đã nộp và sổ sách không giống nhau nên quyết định ấn định thuế TNDN với công ty tôi. Vậy quý Bộ cho tôi hỏi việc cơ quan thuế ấn định thuế với công ty tôi như vậy có đúng không? Sau khi ấn định thuế thì công ty tôi có được hưởng ưu đãi miễn thuế với số thuế bị ấn định cho 3 năm này do vẫn đang trong thời gian được hưởng ưu đãi miễn thuế hay không? Mong nhận được sự hồi đáp sớm nhất của quý cơ quan. Trân trọng cảm ơn.

Ngày:26/12/2016

Trả lời:

Trả lời: – Căn cứ Điều 37 Luật Quản lý thuế số 78/2006/QH11 quy định về ấn định thuế đối với người nộp thuế theo phương pháp kê khai trong trường hợp vi phạm pháp luật về thuế như sau: “Điều 37. Ấn định thuế đối với người nộp thuế nộp thuế theo phương pháp kê khai trong trường hợp vi phạm pháp luật về thuế 1. Người nộp thuế nộp thuế theo phương pháp kê khai bị ấn định thuế trong các trường hợp sau đây: 2. a) Không đăng ký thuế; 3. b) Không nộp hồ sơ khai thuế; nộp hồ sơ khai thuế sau mười ngày, kể từ ngày hết thời hạn nộp hồ sơ khai thuế hoặc ngày hết thời hạn gia hạn nộp hồ sơ khai thuế; 4. c) Không khai thuế, không nộp bổ sung hồ sơ thuế theo yêu cầu của cơ quan thuế hoặc khai thuế không chính xác, trung thực, đầy đủ về căn cứ tính thuế; 5. d) Không phản ánh hoặc phản ánh không đầy đủ, trung thực, chính xác số liệu trên sổ kế toán để xác định nghĩa vụ thuế; đ) Không xuất trình sổ kế toán, hoá đơn, chứng từ và các tài liệu cần thiết liên quan đến việc xác định số thuế phải nộp trong thời hạn quy định;

1. e) … Căn cứ Khoản 1, Điều 18 Thông tư số 123/2012/TT-BTC ngày 27/7/2012 của Bộ tài chính Hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp số 14/2008/QH12 và hướng dẫn thi hành Nghị định số 124/2008/NĐ-CP ngày 11/12/2008, Nghị định số 122/2011/NĐ-CP ngày 27/12/2011 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp (Áp dụng cho kỳ tính thuế TNDN 2012, 2013); và Khoản 1, Điều 18 Thông tư số 78/2014/TT-BTC ngày 18/6/2014 của Bộ tài chính Hướng dẫn thi hành Nghị định số 218/2013/NĐ-CP ngày 26/12/2013 của Chính phủ quy định và hướng dẫn thi hành Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp (Áp dụng cho kỳ tính thuế TNDN 2014 trở đi): “Điều 18. Điều kiện, nguyên tắc áp dụng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp 1. Điều kiện áp dụng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp: Các ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp chỉ áp dụng đối với doanh nghiệp thực hiện chế độ kế toán, hoá đơn, chứng từ theo quy định và đăng ký, nộp thuế thu nhập doanh nghiệp theo kê khai”. Căn cứ các quy định nêu trên, trường hợp người nộp thuế nộp thuế theo phương pháp kê khai vi phạm pháp luật về thuế thuộc trường hợp bị ấn định thuế thì cơ quan thuế thực hiện ấn định thuế theo quy định tại Điều 37 Luật Quản lý thuế và các văn bản hướng dẫn thi hành; đồng thời tùy theo hành vi vi phạm của người nộp thuế, cơ quan thuế thực hiện các hình thức xử lý vi phạm về thuế theo quy định. Trường hợp người nộp thuế nộp thuế theo phương pháp kê khai vi phạm pháp luật về thuế (Phải thực hiện ấn định thuế) thì không được hưởng ưu đãi thuế Thu nhập doanh nghiệp.

Đoan Lê

Xin cho tôi hỏi nếu DN ngừng kinh doanh thì có nộp thuế môn bài hay không? Xin chân thành cảm ơn.

Ngày:26/12/2016

Trả lời:

Về thuế môn bài:

1. Đối với người nộp thuế có thông báo tạm ngừng kinh doanh cả năm dương lịch (01/01-31/12) thì không phải kê khai, nộp thuế môn bài đối với năm dương lịch tạm ngừng kinh doanh. Nếu người nộp thuế ra kinh doanh trước thời hạn trong 06 tháng đầu năm nộp mức thuế môn bài cả năm; nếu người nộp thuế ra kinh doanh trong 06 tháng cuối năm nộp 50% mức thuế môn bài cả năm.

2. Đối với người nộp thuế có thông báo tạm ngừng kinh doanh 12 tháng, không trùng với năm dương lịch (thời gian tạm nghỉ kinh doanh kéo dài trong 02 năm dương lịch) thì thực hiện kê khai, nộp thuế môn bài cả năm của năm dương lịch thứ nhất. Đối với năm dương lịch thứ 2, nếu người nộp thuế ra kinh doanh trong 06 tháng đầu năm nộp mức thuế môn bài cả năm; nếu người nộp thuế ra kinh doanh trong 06 tháng cuối năm nộp 50% mức thuế môn bài cả năm.

Báo cáo quyết toán Thuế: Quy định tại điều 14, thông tư 151/2014/TT-BTC về luật quản lý thuế: “đ) Người nộp thuế trong thời gian tạm ngừng kinh doanh không phát sinh nghĩa vụ thuế thì không phải nộp hồ sơ khai thuế của thời gian tạm ngừng hoạt động kinh doanh. Trường hợp người nộp thuế tạm ngừng kinh doanh không trọn năm dương lịch hoặc năm tài chính thì vẫn phải nộp hồ sơ quyết toán thuế năm.” Theo đó, DN tạm ngưng trọn năm tài chính (01/01- 31/12) thì không phải nộp báo cáo quyết toán thuế. Nếu tạm ngưng không trọn năm thì phải nộp báo cáo quyết toán thuế.

Công ty A là Công ty cổ phần tư nhân và có 1 chi nhánh (đã đăng ký Sở KHDT và được cấp Mã số Thuế đuôi) ở Vũng Tàu đang hoạt động bình thường và hạch toán độc lập. Nhưng do cty chính chưa tìm được địa điểm kinh doanh nên tạm ngưng hoạt động đến giữa tháng 10/2012 là tròn 2 năm. Theo Luật Doanh nghiêp thì không được tạm ngưng quá 2 năm. Vậy cho tôi hỏi Cty chính xin tạm ngưng nhưng chi nhánh vẫn đang hoạt động bình thường vậy có cách nào giải quyết hợp lý và đúng pháp Luật?
Rất mong nhận được sự hồi âm sớm của quý công ty và tôi chân thành cảm ơn.

Ngày:07/09/2016

Trả lời:

Căn cứ Điều 37 Luật Doanh nghiệp quy định “Chi nhánh là đơn vị phụ thuộc của doanh nghiệp, có nhiệm vụ thực hiện toàn bộ hoặc một phần chức năng của doanh nghiệp kể cả chức năng đại diện theo uỷ quyền. Ngành, nghề kinh doanh của chi nhánh phải phù hợp với ngành, nghề kinh doanh của doanh nghiệp.”
Như vậy, trường hợp doanh nghiệp tạm ngưng hoạt động thì chi nhánh cũng tạm ngưng hoạt động.
Trân trọng kính chào !